ads

Slider[Style1]

Style2

Style3[OneLeft]

Style3[OneRight]

Style4

Style5

Bìa sách của tuyển tập thơ Lê Mai
Giao Chỉ viết về Thơ.
Nhân dịp nữ sĩ Lê Mai ra mắt thi phẩm tại San Jose.    

Nhà thơ ba miền:

Nhà thơ Quang Dũng
Thi sĩ Quang Dũng, Người miền Bắc, chiến binh của đoàn quân Tây Tiến, đã có những lời thơ lạ lùng trong lúc toàn dân nổi dậy chống Pháp.

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống    ...
và Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Quang Dũng là nhà thơ của chiến tranh, nhưng cũng là thi sĩ của tình yêu với Đôi mắt người Sơn Tây bất hủ. Ông được xếp ra ngoài vụ Nhân Văn Giai Phẩm nên tương đối yên thân.

Nhà thơ Phùng Quán
Ông Phùng Quán thì bị điêu đứng vì Giai Phẩm. Phùng Quán, quê miền Trung viết rằng: Những khi ngã lòng, vịn câu thơ mà đứng dậy. Câu thơ đó là câu thơ nào mà con người một đời theo cộng sản đã ngã lòng phải vịn thơ mà đứng dậy.  Ông viết:

Thơ với tôi là nước trên sa mạc.
Đă từ nhiều năm nay.
Tôi sống mà như chết.
Cơn khát thơ thiêu đốt trái tim tôi.
Tôi đă đi rao cùng thiên hạ: 
Ai-đổi-thơ-lấy-máu! Không ai đổi.
Vì máu tôi không cùng nhóm máu họ.
Và thơ họ không cùng nhóm thơ tôi.

Đó là nhà thơ Phùng Quán.

Nhà thơ Tô Thùy Yên
Trong khi đó, ông Tô Thùy Yên, sau 10 năm tù cộng sản, trong bài thơ   Trở về đã viết những đoạn như sau: 
...Ta về cúi mái đầu sương điểm.
.. Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
...Cảm ơn hoa đã vì ta nở
...Thế giới vui từ nỗi lẻ loi
...Ta về như lá rơi về cội
...Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
...Chút rượu hồng đây xin rưới xuống
...Giải oan cho cuộc biển dâu này...

Sau 10 năm sống trong ngục tù cộng sản, người thi nhân miền Nam gốc Cần Thơ trở về đã lên tiếng cảm ơn hoa nở. Tay trời rưới chút rượu hồng xuống đất để giải oan cho cuộc chiến mà nhà thơ chỉ coi là biển dâu.

Đây mới thật là ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống.
Đây mới thật là những câu thơ mà khi ta ngã lòng có thể vịn vào mà đứng dậy

Thơ phổ nhạc:

Chúng tôi đã chịu khó đọc ngàn bài thơ trong suốt cả cuộc đời và hết sức yêu thương những câu thơ làm ta xúc động. Phạm Duy cũng là người yêu thơ và chịu khó đọc thơ. Nhưng công việc yêu thơ và đọc thơ của ông đã trở thành nghề nghiệp. Ông là nhạc sĩ nên đã chọn những bài thơ để rồi ca lên thành âm điệu. Chúng ta không phải mất công đi tìm thơ mà chỉ ngồi nghe nhạc...Rồi đây ta phải cảm ơn thi nhân, nhạc sĩ hay ca sĩ.

Bạn văn nói chuyện thơ:

Trở lại với những vần thơ. Hồi ông Phan Lạc Phúc còn sinh tiền bên Úc, hàng tháng chúng tôi nói chuyện văn thơ qua điện thoại. Tôi hỏi rằng ông có nhớ tay nào đi tù về mà không kể chuyện đói khổ. Chỉ cảm ơn hoa vì ta mà nở.   Ông Phúc nói ngay. Tô thùy Yên đấy. Gốc Nam kỳ làm thơ hết sức độ lượng. Ông Phúc đọc luôn cả đoạn thơ dài với hai câu Chút rượu hồng đây xin rưới xuống. Giải oan cho cuộc biển dâu này Cả một cuộc chiến điêu linh Nam Bắc với chiến trường tồi tệ, tiếp đến 10 năm tù đầy mà nhà thơ ra trại chỉ coi như biển dâu của trời đất. Vừa ra khỏi tù đã ngỏ lời cảm ơn hoa vì ta mà nở. Thật tuyệt vời. Chúng tôi nói về Phạm Duy và thơ phổ nhạc. Sau cùng, ông Phúc hỏi tôi là ở bên Mỹ nếu có nhà thơ nào mới in thơ đọc được thì gửi cho ông một cuốn. Tôi trả lời rằng hiện không thấy. Ms. Trần Mộng Tú là nhà thơ nữ nổi tiếng ở hải ngoại có nhiều thơ phổ nhạc thì ông Phúc đã biết rồi. Ngoài ra tôi chưa biết có nhà thơ nữ nào khác. Chưa biết đến chứ không phải là không có. Chuyện đến đó tạm ngưng. Rồi ông ra đi.

Nữ sĩ Lê Mai
Thơ Lê Mai. Tháng 2 năm 2018 cô Lê Mai ra mắt tập thơ tại San Jose. Tôi có dịp đọc đi dọc lại tập thơ mới xuất bản. Nghĩ rằng phải chi ông bạn vàng Phan Lạc Phúc còn sống thì phải gửi sang Úc tập thơ này. Nếu Phạm Duy còn sống, cũng phải giới thiệu để ông lựa chọn mà phổ nhạc. Cô Lê Mai là con gái ông bà Lê Xuân Nhuận. Ông Nhuận tức nhà thơ Thanh Thanh vốn là sui gia với ông Phạm Duy, sao hai gia đình chưa có dip kết duyên văn nghệ giữa thơ và nhạc. Tôi nghĩ thế bởi vì tập thơ của Lê Mai rất đáng đọc. 300 bài thơ trong thi tập 360 trang chia làm 5 giai đoạn làm thơ. Tôi không biết rõ về gia cảnh của tác giả nhưng đọc tập thơ cũng hình dung được Lê Mai đã dựa vào thơ mà tồn tại. Tưởng như mỗi ngày cô gái Ngụy bị bỏ lại 75 đã vịn vào thơ mà đứng dậy. Người và thơ cùng trải qua 5 giai đoạn cuộc đời kéo dài khoảng 40 năm khởi đi từ cuộc đổi đời năm 1975. Vào tháng tư bất hạnh của VNCH, có cô gái con Ngụy 20 tuổi lên đường trả nợ cho miền Nam.

Tập 1: Tác phẩm bắt đầu tập 1 ghi rằng: Tháng Năm, Rừng núi công trường. Những lời thơ đầu đời đã sớm buông hờn tủi:

Mai đi khuân đất lưng đèo,
vai gầy khôn xiết bọt bèo mong manh.
Mai xa thành phố, xa anh.
Rồi anh bỏ phố, nữa đành xa nhau...

Cuộc sống của cô gái Ngụy tiếp tục viết thành thơ: Vác cái thanh xuân lên núi, đổ bừa xuống vực khe. Mặc cho thiên hạ nuối, dung nhan thời cập kê.. Rồi cô gái con của Ba bày tỏ niềm riêng: 

Ở đây cùng núi cùng rừng.
Đã nghe cơ cực khốn cùng ba ơi.
Con chim xiềng cánh mất rồi.
Bao giờ bay trở lại trời Tự Do?

Tập 2: Qua đến tập 2 Giòng đời, cô gái dường như có một tình yêu:

Cho em nghe lời thơ anh trong gió.
Đảo giữa trời biển sóng riêng tư.
Bây giờ mùa Xuân hay đã vào Thu.
Sao tiếng nhẹ mơ hồ muôn lá rớt... 

Tập 3: Tiếp theo là tập 3 với bài thơ 20 năm trở thành thiếu phụ làm thơ gửi chồng:
Hai mươi năm viết cho chồng.
Mang mang ước mộng như lần đầu yêu.
Bốn mươi xuân sắc chưa chiều.
Dẫu cho son trẻ ít nhiều phôi pha...

Trong tập 3 này nhà thơ sáng tác một bài thơ kể về tâm tình mẹ chồng nàng dâu, hết sức thú vị. Bài thơ dài 10 trang ghi ra được 2 câu thơ tiêu biểu của vấn nạn gia đình:

Tôi thương anh, mẹ thương anh.
Mà tôi với mẹ không thành thương nhau. ..

Tập 4 với Lối cũ một mình. Đây là một thời cô đơn:

Chia tay người về.
Có gì đâu mang theo.
Một khung trời lặng lẽ.
Thắp đèn sao trong veo...
Nỗi buồn chưa kịp tới.
Người xoay lưng đi rồi.
Mây che mờ hướng núi.
Hạt sương chầm chậm rơi...

Thi sĩ cũng viết Vô đề:

Ta như sông mượn trăng làm dáng.
Ta như thuyền mượn sóng lênh đênh.
Ta như ta dòng sâu bến cạn.
Ta như mình mượn mệnh chông chênh...

Rồi khi thi sĩ trưởng thành, nhìn lại chính mình. Tôi.

Trói tôi trong khắc nghiệt tôi.
Từng phen vùng vẫy chưa rời rụng đi.
Nhận chi và chối bỏ chi.
Tôi còng lưng vác tôi đi một đời.

Cuối tập 4, tác giả rao bán cái Ngậm ngùi:

Cho tôi lại chút dại khờ,
như xưa yêu chẳng biết ngờ vực chi.
Khôn ngoan giờ để làm gì.
Cho tim ngần ngại hết thì xuân trong...

Tập 5: Tập cuối của tác phẩm có tựa đề Bội Tình. Chữ nghĩa nói lên ý nghĩa đau thương của thân phận. Tuy nhiên bội tình không oán trách. Lời thơ không phản kháng mà chấp nhận. Rất nhiều bài có thể phổ nhạc. Gần với Bùi Giáng và Trịnh Công Sơn. Đó là những gì tôi ghi nhận được trong thơ Lê Mai. Như những bài thơ Vô Tình:

Hạt cát vô tình,
Nhón gót chân đi.
Sợi khói vô tình,
Cay mắt từng khi.
Trời đất vô tình,
Sáng trưa chiều tối.
Trái tim vô tình,
Mịt mù vô lối.
Và anh vô tình, nhiều khi xoay bước.
Và em vô tình, lỡ lầm sau trước...

Thơ của tác giả vần điệu rất nhẹ nhàng không lạc vận. Thi sĩ thử thách qua các thể thơ khác biệt. Tứ tuyệt, ngũ ngôn, thất ngôn, lục bát và thơ tự do.. không tuân theo một thể thơ nhất định. Toàn tập thơ là lời kể lể hoàn cảnh và thân phận nhưng chấp nhận. Không phản kháng, không căm hờn, không oán trách. Rất Thiền. Như Hà Thượng Nhân đã viết trong tù.  Những mái đầu cất cao. Không một lời than thở.

Chúng ta thường được thi nhân tài tử tặng những thi phẩm. Liệu có thì giờ và sự cảm thông để đọc hết không. Tôi đã đọc hết và muốn giới thiệu cho bác Phan Lạc Phúc bên Úc Châu. Nếu còn cụ Hà Thượng Nhân ở San Jose cũng xin cụ xem qua. Nhưng các niên trưởng không còn nữa. Bây giờ đêm cũng khuya mà ngày cũng muộn. Tôi đọc một mình và viết đôi lời về thơ gửi các bạn. Mừng ông Lê Xuân Nhuận có con gái Lê Mai làm thơ. Ảnh hưởng rất nhiều từ thi sĩ Thanh Thanh...

Giao Chi San Jose.
giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393

Other Articles

«
Next
Newer Post
»
Previous
Older Post

Top