ads

Slider[Style1]

Style2

Style3[OneLeft]

Style3[OneRight]

Style4

Style5

Báo Cáo Viên Đặc Biệt của LHQ Heiner Bielefeldt tiếp xúc với phái đoàn Khối Nhơn Sanh Đạo Cao Đài, Bangkok, Thái Lan, ngày 1/10/2015
Quyền tự do tôn giáo: từ nạn nhân thành chứng nhân
Ts. Nguyễn Đình Thắng

Ngày 18 tháng 10, 2015

(Ghi chú: Bài này thuộc Chương 2 và 3 “Sách Lược Chuyển Thế và Sách Lược Tạo Lực”, trong loạt bài “10 năm dân chủ hoá Việt Nam”: http://www.machsongmedia.com/chinhtri/vandechinhsach/1009-pho-bien-ke-hoach-5-va-100.html )

Các cộng đồng tôn giáo độc lập ở Việt Nam bắt đầu có tiếng nói ảnh hưởng quốc tế.

Hoàn tất đàm phán TPP tăng cơ hội chuyển thế và tạo lực.

Phát triển khả năng báo cáo vi phạm là bước chiến lược cho các cộng đồng tôn giáo ở Việt Nam.

Ngày 14 tháng 10 vừa qua, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ công bố bản phúc trình thường niên về tình trạng tự do tôn giáo trên thế giới, trong đó có Việt Nam, cho năm 2014. Trong phần phát biểu với báo chí, Đại Sứ Lưu Động về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế David Saperstein, người chịu trách nhiệm về bản phúc trình, nêu đích danh Việt Nam là trường hợp điển hình của sự vi phạm tự do tôn giáo theo chính sách.

Nhiều cơ quan truyền thông Việt ngữ đã đưa tin và phân tích sự kiện này. Tuy nhiên có một sự chuyển biến lớn trong nội dung bản báo cáo mà chưa ai nói đến hoặc biết đến: Bản báo cáo của BNG Hoa Kỳ năm nay trở thành diễn đàn cho cộng đồng tôn giáo ở Việt Nam tố giác trực tiếp với thế giới những vi phạm của chế độ đối với chính những cam kết của họ đối với quốc tế. Hơn thế nữa, trong bối cảnh đàm phán TPP vừa hoàn tất thì tiếng nói  ấy sẽ càng tăng ảnh hưởng nếu chúng ta làm đúng việc và làm việc đúng cách.

Việt Nam bị lưu ý

Trong phần họp báo, Đại Sứ Lưu Động Saperstein nêu ra 4 xu thế về đàn áp tự do tôn giáo. Trong đó một xu thế là việc áp dụng chính sách bạo lực và phân biệt đối xử đối với các cộng đồng tôn giáo không chấp nhận sự kềm toả của chính quyền:

“Các chính phủ mang tính cách đàn áp thường xuyên áp đặt lên công dân của họ bạo lực, sự giam giữ, sự phân biệt đối xử, sự giám sát quá mức, chỉ đơn giản vì họ thực hiện đức tin của mình hoặc xác nhận là thuộc một cộng đồng tôn giáo. Chúng tôi thấy điều này bị bi thảm hoá bởi thảm cảnh của vô số các tù nhân lương tâm. Chúng tôi vẫn quyết tâm sâu sắc để làm sao cho các cá nhân đó được trả tự do ở mọi nơi trên thế giới.”

Để dẫn chứng, Ông Saperstein đã nêu trường hợp của Việt Nam:

“Trong các lần đến Việt Nam, tôi tận mắt thấy các nhóm tôn giáo bị buộc phải trải qua quá trình đăng ký khó nhọc và tùy tiện để được hoạt động hợp pháp. Nhân việc Việt Nam đang xem xét việc tu chính các luật về tôn giáo, chúng tôi đứng cùng với các cộng đồng tôn giáo của quốc gia này trong việc kêu gọi sự nới lỏng các điều khoản bó buộc ấy.”

Phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Việt Nam đã lên tiếng phản bác bản phúc trình, cáo buộc rằng Hoa Kỳ “vẫn tiếp tục đưa ra một số đánh giá không khách quan, trích dẫn những thông tin sai lệch về Việt Nam.”

Thông tin nguồn thứ nhất

Sự phản bác của Việt Nam hoàn toàn lạc lõng vì, khác với những năm về trước, bản phúc trình năm nay dựa vào một khối lượng lớn thông tin do chính các cộng đồng tôn giáo bị ảnh hưởng cung cấp trực tiếp. Nhiều cộng đồng tôn giáo ở những vùng xa xôi và hẻo lánh của đất nước cũng đã cung cấp các bản báo cáo chi tiết và chuẩn xác.  Trong ngôn ngữ quốc tế về báo cáo vi phạm thì đây là thông tin nguồn thứ nhất (first source) – nó đến trực tiếp từ người có mặt tại hiện trường trong tư cách là nạn nhân hay chứng nhân.  Trong số 25 trường hợp vi phạm tự do tôn giáo được dẫn trong bản phúc trình thì 17 (khoảng 70%) là do những người đã qua lớp huấn luyện thực hiện.

Đây là kết quả của kế hoạch huấn luyện dài lâu mà chúng tôi, gồm BPSOS và 2 tổ chức ở Âu Châu, bắt đầu thực hiện tháng 1 năm 2014. Lúc ấy việc huấn luyện này là để cung cấp thông tin cho chuyến thị sát của Báo Cáo Viên Đặc Biệt của LHQ về tự do tôn giáo hay tín ngưỡng, Gs. Ts. Heiner Bielefeldt, đến Việt Nam 6 tháng sau đó. Đến thời điểm của chuyến thị sát, khoảng 150 người đã được huấn luyện và họ đã nộp 50 bản báo cáo đúng tiêu chuẩn quốc tế cho LHQ. Chính nhờ vậy mà vị Báo Cáo Viên Đặc Biệt đã nắm khá rõ tình hình trước khi đặt chân đến Việt Nam.

Sau đó chúng tôi vẫn tiếp tục chương trình huấn luyện. Đến cuối năm 2014 số người được huấn luyện tăng lên là 250 và số báo cáo vi phạm lên gần 100. Các báo cáo này đã đóng góp cho bản phúc trình về chuyến thị sát được Báo Cáo Viên Đặc Biệt của LHQ công bố vào cuối tháng 3 năm nay.

Chúng tôi cũng nộp tất cả các bản báo cáo này cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, Uỷ Hội Hoa Kỳ về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế, và một số văn phòng dân biểu và thượng nghị sĩ Hoa Kỳ. Gần đây hơn, chúng tôi đã chuyển một số báo cáo cho Văn Phòng về Tự Do Tôn Giáo của Bộ Ngoại Giao Canada. Hai tổ chức hợp tác với chúng tôi ở Âu Châu thì chuyển các báo cáo này đến các chính quyền Âu Châu và Liên Âu.

Chính vì lý do đó bản phúc trình mà Bộ Ngoại Giao vừa công bố ăn khớp khá chặt chẽ với bản báo cáo của Báo Cáo Viên Đặc Biệt của LHQ.

Không thể chối cãi

Khi nhận được báo cáo, nhiều cơ quan kể trên đã đích thân phối kiểm thông tin một cách độc lập. Báo Cáo Viên Đặc Biệt của LHQ đã thị sát Việt Nam để phối kiểm thông tin hồi tháng 7 năm ngoái; và mới đây ở Bangkok, Thái Lan, ông ta lại gặp thêm vài chục nhân chứng để lấy thêm thông tin.

Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ ở Việt Nam đã cử người đến tận nơi để tiếp xúc với chứng nhân và quan sát tình hình. Trong một năm qua các phái đoàn của Bộ Ngoại Giao và của Quốc Hội Hoa Kỳ mỗi lần đến Việt Nam đều tiếp xúc, ở Sàigòn hoặc ở Hà Nội, với đại diện của nhiều cộng đồng tôn giáo đang bị đàn áp, kể cả từ những vùng xa xôi, hẻo lánh của Việt Nam.

Không những thế, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và Uỷ Hội Hoa Kỳ về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế thường xuyên tiếp xúc với Toà Đại Sứ Việt Nam ở Hoa Kỳ để nêu các trường hợp vi phạm và yêu cầu chính quyền Việt Nam kiểm chứng.

Như vậy, khi phát ngôn nhân của Bộ Ngoại Giao Việt Nam phản bác rằng Hoa Kỳ “đưa ra một số đánh giá không khách quan” và “trích dẫn những thông tin sai lệch” thì đó là nói cho có; trong suốt cả gần 2 năm qua chính quyền Việt Nam đã có đầy đủ cơ hội và thời gian để kiểm chứng và làm sáng tỏ bất kỳ thông tin nào mà họ cho là sai lệch.

Thế đang chuyển

Khi cam kết tôn trọng nhân quyền với quốc tế để được tham gia Hội Đồng Nhân Quyền LHQ và với Hoa Kỳ để tham gia TPP, chính quyền Việt Nam đinh ninh rằng dù họ tiếp tục vi phạm thì thế giới chẳng sao biết được. Nhưng họ đã lầm. Kế sách của chúng tôi là dùng quốc tế vận để đạt sự cam kết và cùng lúc huấn luyện cho người dân trong nước báo cáo mỗi khi chính quyền vi phạm sự cam kết ấy. Qua việc báo cáo ấy, người dân ở trong nước có thể đòi hỏi chế độ thực thi những gì họ đã cam kết với quốc tế.

Đây là một bước chuyển quan trọng. Những năm trước đó, nhiều tổ chức người Việt và quốc tế, trong đó có chúng tôi, thực hiện các bản báo cáo dựa trên những thông tin “thô” lấy từ nạn nhân hay người biết chuyện. Từ năm 2014 chính nạn nhân hay chứng nhân đã thực hiện các bản báo cáo. Chúng tôi chỉ dịch lại và nộp đi. Đây là bước phát triển năng lực và tinh thần chủ động của một số cộng đồng tôn giáo mà trước đây hoàn toàn bị vây hãm và bị động.

Chúng tôi còn đi xa hơn vậy: khai thác dự thảo Luật Tín Ngưỡng, Tôn Giáo để kết nối ngày càng đông các cộng đồng tôn giáo độc lập ở Việt Nam với quốc tế. Ban dịch thuật của chúng tôi, gồm những người tình nguyện, đã dịch sang tiếng Anh các bản lên tiếng của các tổ chức tôn giáo ở trong nước về dự thảo luật này. Chúng tôi đã chuyển các bản lên tiếng ấy đến các giới chức và tổ chức quốc tế. Đồng thời chúng tôi sắp xếp để đại diện của các cộng đồng tôn giáo ở Việt nam tiếp xúc trực tiếp với quốc tế qua những buốt họp ở trong và ngoài Việt Nam. Chẳng hạn Đại Sứ Lưu Động Saperstein của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã gặp nhiều nhóm tôn giáo ở trong nước vào tháng 5 vừa qua. Vào cuối tháng 9, chỉ vài tuần trước khi công bố bản phúc trình cho năm 2014, Ông ta đã họp với một phái đoàn tôn giáo đến từ Việt Nam để trao đổi về dự thảo Luật Tín Ngưỡng, Tôn Giáo.  Trước đó vài tuần, phái đoàn của Uỷ Hội Hoa Kỳ về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế đã đến Việt Nam và tiếp xúc với nhiều cộng đồng tôn giáo để lắng nghe quan điểm về dự thảo Luật Tín Ngưỡng, Tôn Giáo. Cũng trong khoản thời gian này một phái đoàn nghị sĩ Đức đã gặp gỡ ở Hà Nội để lấy ý kiến của một số cộng đồng tôn giáo về dự thảo Luật Tín Ngưỡng, Tôn Giáo.

Song song chúng tôi đồng tổ chức Hội Nghị Về Tự Do Tôn Giáo Hay Tín Ngưỡng Ở Đông Nam Á để tạo cơ hội cho các cộng đồng tôn giáo ở Việt Nam tiếp xúc và kết nối với rất đông các tổ chức và cơ quan quốc tế.

Như thế, chính sách để cô lập họ từ bấy lâu nay đang mất dần hiệu lực. Ngược lại, chính quyền Việt Nam đang ngày càng ở thế cô khi mà quốc tế ngày càng ủng hộ tiếng nói, và như vậy là công nhận sự chính danh, của các cộng đồng tôn giáo độc lập ở Việt Nam.

Điều này thể hiện qua lời phát biểu tại buổi họp báo ngày 14 tháng 10 của Đại Sứ Lưu Động Saperstein: “Nhân việc Việt Nam đang xem xét việc tu chính các luật về tôn giáo, chúng tôi đứng cùng với các cộng đồng tôn giáo của quốc gia này trong việc kêu gọi sự nới lỏng các điều bó buộc ấy”.

Khai thác thế đang chuyển

Bản phúc trình của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ về tự do tôn giáo quốc tế năm 2014 được công bố trong bối cảnh đàm phán TPP vừa hoàn tất, và có thể tạo nên tình huống khó xử cho Hành Pháp Hoa Kỳ trước sự chất vấn của Quốc Hội.  Hành Pháp phải chứng minh rằng cuộc đàm phán TPP đã góp phần phát huy tự do tôn giáo theo quy định của luật Hoa Kỳ.

Công cuộc tổng vận động Quốc Hội mà chúng tôi phối hợp trong 4 năm qua đã thành công trong việc kết nối tự do tôn giáo với TPP. Luật Đàm Phán Nhanh, được ban hành cuối tháng 6 năm nay và nhờ đó mà Hành Pháp Obamna hoàn tất được cuộc đàm phán TPP, có một điều kiện hi hữu: phải phát huy tự do tôn giáo trong tiến trình đàm phán mậu dịch.

Nối kết điều kiện này với đòi hỏi của Luật Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế năm 1998 rằng Bộ Ngoại Giao hàng năm phải phúc trình cho Quốc Hội tình hình tự do tôn giáo trên thế giới, chúng tôi tạo một “sân chơi” mới cho các cộng đồng tôn giáo ở Việt Nam. Trong sân chơi ấy, khả năng báo cáo vi phạm của từng cộng đồng tôn giáo sẽ giúp họ chuyển từ thế nạn nhân bị động sang thế chứng nhân “canh chừng và báo động”.

Đối chiếu bản phúc trình hàng năm, Quốc Hội có thể định giá sự hiệu quả của nỗ lực phát huy tự do tôn giáo của Hành Pháp. Nếu ai bỏ công đối chiếu 2 bản phúc trình cho năm 2014 và năm 2013 thì sẽ có cảm tưởng ngay rằng tự do tôn giáo đi lùi ở Việt Nam. Điều này, theo tôi, là do Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ năm nay đã nhận được lượng thông tin vượt trội và chi tiết hơn hẳn với trước kia.

Tuy nhiên, vì Luật Đàm Phán Nhanh mới có hiệu lực cuối tháng 6 năm 2015, Quốc Hội sẽ phải chờ qua năm sau để lượng định mức thay đổi trong năm 2015 so với năm 2014. Sự đối chiếu này sẽ là trọng tâm của cuộc tổng vận động Quốc Hội mà chúng tôi đang chuẩn bị cho cuối tháng 3 đầu tháng 4 sang năm. Nó tạo áp lực lên Hành Pháp Hoa Kỳ để đòi hỏi một cách mạnh mẽ và quả quyết rằng chính quyền Việt Nam phải thật sự tôn trọng quyền tự do tôn giáo.

Mỗi người một tay

Trong sân chơi mới, muốn giành thế thượng phong thì phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa trong và ngoài: Ở trong, từng cộng đồng tôn giáo phải dốc tâm phát triển nội lực nhằm khẳng định quyền tự do tôn giáo của chính mình; ở ngoài, tập thể người Việt hải ngoại phải huy động quốc tế để áp lực chính quyền Việt Nam thực thi các cam kết về tự do tôn giáo.

Để giúp các cộng đồng tôn giáo trong nước phát triển nội lực, từ tháng 1 năm 2014 đến nay chúng tôi đã huấn luyện tổng cộng gần 400 người chuyên báo cáo vi phạm tự do tôn giáo; chúng tôi dự kiến đạt con số 500 vào cuối năm nay. Con số này còn quá ít. Mục tiêu của chúng tôi là đào tạo thêm 500 người trong năm 2016 và thêm 1 nghìn người trong năm 2017. Tối hậu, chúng tôi ước lượng phải có 5 nghìn người chuyên về báo cáo rải khắp đất nước thì mới vén được toàn bộ bức màn che mắt quốc tế.

Tôi kêu gọi các cộng đồng tôn giáo ở Việt Nam tập trung phát huy khả năng báo cáo vi phạm. Đó là bước đi chiến lược quan trọng nhất trong lúc này cho tương lai tự do tôn giáo cho mỗi cộng đồng tôn giáo. Họ cần gấp rút tuyển nhân sự đáng tin cậy và có năng lực để học về cách báo cáo vi phạm theo đúng tiêu chuẩn của LHQ. Mỗi tôn giáo hay hệ phái đều phải đào tạo vài ba người như vậy cho mỗi địa phương hay điểm nhóm có tín đồ.

Ngoài việc tham gia các cuộc tổng vận động, người Việt ở hải ngoại còn có thể đóng góp thiết thực để yểm trợ cho từng cộng đồng tôn giáo ở trong nước phát triển nội lực. Tôi kêu gọi những ai đồng ý với cách làm của chúng tôi thì hãy góp một bàn tay bằng cách:

1. Giúp riêng cho một cộng đồng tôn giáo ở trong nước mà chính quý vị chọn lựa, bằng cách thành lập nhóm yểm trợ dài hạn về kỹ thuật, dịch thuật và tài chính cho một cộng đồng tôn giáo ấy – chúng tôi sẵn sàng huấn luyện cho cộng đồng tôn giáo ấy và cho nhóm yểm trợ về báo cáo vi phạm cũng như về quốc tế vận;

2. Giúp chung cho các cộng đồng tôn giáo đang cần sự hỗ trợ về kỹ thuật và dịch thuật, bằng cách tham gia ban kỹ thuật và ban dịch thuật của BPSOS – ban kỹ thuật giúp các cộng đồng tôn giáo biên soạn bản báo cáo bằng tiếng Việt còn ban dịch thuật thì dịch bản báo cáo sang tiếng Anh;

3. Yểm trợ tài chính để chúng tôi cung cấp phương tiện (máy điện toán, dịch vụ internet, chi phí vận chuyển để tiếp xúc các phái đoàn quốc tế hay tham gia các hội nghị khu vực...) cho các cộng đồng tôn giáo ở Việt Nam trong việc đào tạo nhân sự và nối kết với quốc tế.

Thông tin liên quan:

Ghi danh tham gia khoá đào tạo báo cáo vi phạm: elisephuong.ho@bpsos.org

Tham gia ban kỹ thuật: bpsos@bpsos.org

Tham gia ban dịch thuật: qhpham24@gmail.com

Đóng góp tài chánh: BPSOS/ACF, PO Box 8065, Falls Church, VA 22041 USA

Một số báo cáo vi phạm được lưu trữ tại đây: http://dvov.org/religious-freedom/

Nguồn tin: http://machsongmedia.com

Other Articles

«
Next
Newer Post
»
Previous
Older Post

Top